Tuesday, November 19, 2013

NGỌC HOÀNG LÀM SẬP CẦU Ô-THƯỚC CỦA CON TIM!

Nhịp Cầu Ô Thước Của Đảng CSVN!
Nguyễn Việt Nữ

Thuần phong mỹ tục đất nước Rồng Tiên dành suốt tháng Bảy Âm-lịch là Mùa Vu-Lan Báo Hiếu, còn có cơn Mưa Ngâu cũng vào tháng Bảy với nhịp Cầu Ô-Thước cho Ngưu-Lang Chức-Nữ nối lại khúc nhạc  tình yêu khao khát suốt mười hai tháng trong năm.

I.Tháng Bảy Mưa Ngâu Nhịp Cầu Ô-Thước
do Chí Tâm và Ngọc Đan Thanh trình bày:
Để thay đổi môi trường chính trị quá nhức đầu, xin mời nghe hai nghệ sĩ Chí Tâm và Ngọc Đan Thanh nhắc lại chuyện Tháng Bảy Mưa Ngâu với  Nhịp Cầu Ô-Thước để nhớ bài học Thế-giới-sử: Ngọc-Hoàng nào ác đức,  nhân danh tình yêu để ngăn cách nhịp cầu tâm hồn thế hệ  trẻ trần gian? Chắc chắn sẽ nghe tên ông Ngọc Hoàng Mác-Lê (Marx-Lenin) vang danh thế giới?


II. Xin nghe “Phật Thuyết Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân”
  II.A. Trên 2500 trước Phật đã khóc, lạy núi xương khô vì Luật Luân-Hồi

Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ. Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung
Chư Tăng câu hội rất đông. Tính ra tới số hai muôn tám ngàn.
 Lại cũng có các hàng Bồ-tát. Hội tại đây đủ mặt thường thường.
Bây giờ, Phật mới lên đường. Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành.
 Đáo bán lộ, đành rành mắt thấy. Núi xương khô bỏ đấy lâu đời
Thế Tôn bèn vội đến nơi. Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.
 Ðức A Nan tủi lòng ái ngại. Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?
Vội vàng xin Phật dạy tường. Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài
 Ai ai cũng kính Thầy dường ấy. Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?
 Phật rằng: Trong các môn đồ, Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công
 Bởi chưa biết đục trong cho rõ. Nên vì ngươi, ta tỏ đuôi đầu:
Ðống xương dồn dập bấy lâu. Cho nên trong đó biết bao cốt hài
 Chắc cũng có ông bà cha mẹ. Hoặc thân ta hoặc kẻ sanh ta
Luân hồi sanh tử, tử sanh. Lục thân đời trước thi hài còn đây
 Ta lễ bái kính người tiền bối. Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa
Ðống xương hỗn tạp chẳng vừa. Không phân trai gái bỏ bừa khó coi
 Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ. Phân làm hai, bên nữ bên nam
Ðể cho phân biệt cốt phàm. Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.
II.B. Phật sớm dạy phân biệt xương nào của Mẹ, của Cha loài người.
Xin nhớ, mỗi mùa Vu-Lan Báo Hiếu, Phật tử nào cũng đi Chùa tụng kinh, thuộc  lào Kinh Vu-Lan Bồn, Kinh Vu-Lan Báo Hiếu; nhưng ít ai để ý, cách Phật dạy phân biệt xương Nữ và Nam trong núi xương khô, chứng tỏ trên 2,500 năm trước, ngoài chứng minh Luật Luân Hồi, Ngài đã là một Chuyên-gia về bệnh Sản-Phụ khoa (gynecologist) tuyệt vời rồi! Xin nghe:

Ðức A Nan trong lòng tha thiết. Biết làm sao phân biệt khỏi sai
Ngài bèn xin Phật chỉ bày. Vì khó chọn lựa gái trai lúc này
 Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt. Cách đứng đi ăn mặc phân minh
Chớ khi rã xác tiêu hình. Xương ai như nấy khó nhìn khó phân.
 Phật mới bảo: A Nan nên biết. Xương nữ nam phân biệt rõ ràng
Ðàn ông xương trắng nặng hoằng. Ðàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.
 Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra
Sanh con ba đấu huyết ra. Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con
 Vì cớ ấy hao mòn thân thể. Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.
A Nan nghe vậy bi ai. Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh. 

II. C. Phật sớm dạy vì sao và phương pháp nào báo hiếu song thân?
II.C.1. Nguyên nhân vì mười tháng cưu mang thai nghén

Trước khi dạy phương pháp báo hiếu phụ-mẫu,  Đức Phật không muốn con người chỉ “gọi dạ bảo vâng” một chiều chỉ vì do lời Phật dạy, mà Ngài giảng cho biết trước nguyên nhân mười tháng cưu mang nhiều bề cực nhọc. Khi biết rõ như vậy thì tự lòng người con biết bổn phận mình để tìm phương pháp báo hiếu, tùy hoàn cảnh mỗi người, chứ không phải vì lời Phật dạy. Đức Phật tin con người có trí tuệ nghĩ suy để tự mình chọn lựa! Vì “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sắp thành!”. Tính Bình-Đẳng là Có Thật nếu biết hành Nghiệp Thiện nhiều Kiếp!
Nên nhớ đây là lời dạy trên 2,500 năm trước Tây lịch.  Phải chăng Đức Phật từng là một Bác-sĩ Sản- khoa (obstetrician) kỳ tài! Xin nghe tiếp:
Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo. Phương pháp nào báo hiếu song thân?
Thế Tôn mới bảo lời rằng: Vì ngươi, ta sẽ phân trần, khá nghe!
Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc. Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang
Tháng đầu, thai đậu tợ sương. Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường.
 Tháng thứ nhì dường như sữa đặc. Tháng thứ ba như cục huyết ngưng
Bốn tháng đã tượng ra hình. Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng.
 Tháng thứ sáu lục căn đều đủ. Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chân long. Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn.
 Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ. Chín tháng thì đầy đủ vóc hình
Mười tháng thì đến kỳ sinh. Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn.
 Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu. Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung
Làm cho cha mẹ hãi hùng. Sự đau, sự khổ, khôn cùng tỏ phân
 Khi sản xuất muôn phần an lạc. Cũng ví như được bạc, được vàng.
II.C.2.Chưa ra đời mang nặng đẻ đau, khi chào đời dưỡng dục cù lao
Thời đại văn minh Tây Âu siêu việt gần đây, khi  một Bác-sĩ Sản–khoa bồng thai nhi chào đời để vào nôi không lâu là tròn bổn phận. Trách nhiệm kế tiếp là của Bác-sĩ Nhi-khoa. Trên 2,500 năm trước, Đức Phật chẳng những là một Bác-sĩ Sản Phụ khoa, Ngài còn là một Bác-sĩ Nhi khoa (paediatrician) gương mẫu nữa!
Xin nghe lý do để Báo Hiếu của một Y-Lý-Vương thấu suốt cuộc sống quần sinh:
Thế Tôn lại bảo A Nan: Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin.
Ðiều thứ nhứt: giữ gìn thai giáo. Mười tháng trường châu đáo mọi bề.
Thứ hai: sanh đẻ gớm ghê. Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.
 Ðiều thứ ba: thâm ân nuôi dưỡng. Cực đến đâu bền vững chẳng lay.
Thứ tư: ăn đắng uống cay. Ðể dành bùi ngọt đủ đầy cho con.
 Ðiều thứ năm: lại còn khi ngủ. Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.
Thứ sáu: bú sữa nhai cơm. Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê.
 Ðiều thứ bảy: không chê ô uế. Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.
Thứ tám: chẳng nỡ chia riêng. Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo.
 Ðiều thứ chín: miễn con sung sướng. Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam
Tính sao có lợi thì làm. Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm.
 Ðiều thứ mười: chẳng ham trau chuốt. Dành cho con các cuộc thanh nhàn
Thương con như ngọc như vàng. Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.
Phật lại bảo: A Nan nên biết, Trong chúng-sanh tuy thiệt phẩm người
Mười phần mê muội cả mười. Không tường ơn trọng đức dày song thân.
 Chẳng kính mến quên ơn trái đức. Không xót thương dưỡng dục cù lao
Ấy là bất hiếu mạc giao. Vì những người ấy đời nào nên thân.
Mẹ sanh con cưu mang mười tháng. Cực khổ dường gánh nặng trên vai.
Uống ăn chẳng đặng vì thai. Cho nên thân thể hình hài kém suy.
Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết. Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề.
Ví như thọc huyết trâu dê. Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan.
Con còn nhỏ phải lo săn sóc. Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con. 
Phải tắm phải giặt rửa trôn. Biết rằng dơ dáy, mẹ không ngại gì.
Nằm phía ướt, con nằm phía ráo. Sợ cho con ướt áo, ướt chăn.
Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân. Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.
Trọn ba năm bú nương sữa mẹ. Thân gầy mòn nào nệ với con.
Khi con vừa được lớn khôn. Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng..
Cho đi học mở thông trí huệ. Dựng vợ chồng có thế làm ăn.
Ước mong con được nên thân. Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.
Con đau ốm tức thì lo chạy. Dầu tốn hao đến mấy cũng đành.
Khi con căn bệnh đặng lành. Thì cha mẹ mới an thần định tâm.
Công dưỡng dục sánh bằng non biển

 III. Phải chăng đây là Thời Mạt Pháp? Phật dạy tiếp:

Cớ sao con chẳng biết ơn này. Hoặc khi lầm lỗi bị rầy
Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang. Hỗn cha mẹ, phùng mang trợn mắt
Khinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi. Bà con chẳng kể ra chi
Không tuân sư phụ, lễ nghi chẳng tường. Lời dạy bảo song đường không kể
Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng. Trái ngang chống báng mọi đàng
Ra vào lui tới mắng càn người trên.Vì lỗ mãng tánh quen càn bướng
Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn. Lớn lên theo thói hung hăng
Ðã không nhẫn nhịn, lại càng hành hung.Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ
Nết tập quen, làm sự trái ngang. Nghe lời dụ dỗ quân hoang
Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người……
                                                             XXXXXXXXXXXX
III.A. Linh Mục Tadeo Nguyễn Văn Lý

Vâng! Đây là thời Mạt Pháp, nên tôn giáo hữu thần bị đàn áp  không phát triển được thì hậu quả tất nhiên là chỉ có tôn giáo Cộng sản vô thần làm văn hóa suy kiệt mà Linh Mục Tadeo Nguyễn Văn Lý có bài thơ làm trong tù:
              “Tự do ngôn luận cho dân
             Độc tài độc đảng phải cần bỏ đi.
Trục xuất sát hại thai nhi
Vô thần duy vật tội ghi mãi hoài
          Cửa nhà cơ sở đất đai,
           Của dân của đạo trả ngay tức thì!”
              (Thi-sĩ, Ngục-sĩ  L M Tadeo Nguyễn Văn Lý)

III.B. Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Còn Hòa Thượng Thích Quảng Độ--đương kiêm Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo  Việt Nam Thống Nhất--khi trên 10 năm bị đày ở miền Bắc cũng làm thơ kêu than thống thiết cho giống nòi:
Tây chẳng phải Tây, Đông chẳng Đông
  Quỉ quái sinh ra lũ cuồng ngông
  Mồ mả tổ tiên cày xới hết
  Đình chùa miếu mạo phá bằng không
 Ông bà xem nhẹ như con lợn
  Bố mẹ coi như khúc gỗ thông
   Phảng phất non sông hồn Lạc Việt
   Bốn nghìn tuổi sử tủi hay không?”
  (Thi-sĩ “Tù không tội” Thích Quảng Độ)

III.C. Địa Ngục Trần Gian
                         
Chúng ta nghe nhiều về “26 năm lưu đày” dưới Địa Ngục Trần Gian Hồ Chí Minh của Thượng Tọa Thích Thiện Minh, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, cựu Chủ Tịch Hội Ái-Hữu Tù Nhân Chính trị và Tôn Giáo Việt Nam.

Chúng ta cũng nghe “Bao Nỗi Tang Thương”Đảng là Mẹ, Bác là Cha của Tâm Nguyên Thích Trí Lực, đệ tử Đệ Tam Tăng Thống Thích Đôn Hậu của Chùa Thiên Mụ Huế, bên dòng Sông Hương…

Người Việt Nam ta quá khổ đau ở Địa Ngục Trần Gian Xã Hội Chủ Nghĩa  rồi. Ai cũng muốn tìm Thiên Đàng. Trên đây ta nghe vị Y-Lý-Vương  Phật Thích-Ca  chẩn bệnh cứu khổ cho muôn loài đã dạy: báo hiếu đúng Phụ-Mẫu Thâm-Ân  nào thực sự khi Sướng thì  “Sướng sau cái Sướng của con” ; còn khi Khổ thì  “ Khổ trước cái Khổ của con”. Tức nhiên không phải là loại Phụ- Mẫu theo công thức: “Đảng là Mẹ, Bác là Cha” đã gây Bao Nỗi Tang Thương cho Dân Tộc.

Đức Từ-phụ Thích-Ca cũng dạy: Thiên Đàng không ở đâu xa, mà chính trong TÂM ta. Muốn tìm cõi Thiên Đàng, chỉ cần biết phân biệt như giữa núi xương Nam, Nữ:

III.D. Sự khác biệt giữa Thiên Đàng và Địa Ngục

Nghe nảy giờ lâu quá chắc đói bụng, xin nhờ  đầu bếp Thiên Luân mời quí vị dùng “Bữa ăn Thiên Đàng và Địa Ngục”như vầy:

Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống của nhân dân tại đó.

Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy trưng bày toàn sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.

Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy mòn, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến cảnh họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau: vài người dùng muỗng nĩa để, thay vì đưa thức ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau. Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dày vẫn trống rỗng.

Quá sợ hãi, chàng ký giả lập tức từ giã địa ngục để tiếp tục lên phóng sự trên thiên đàng. Ðến nơi cũng đúng vào giờ cơm. Bàn ăn cũng trưng bày những thức ăn ngon miệng. Quan sát nhân dân, chàng ta thấy ai nấy đều phương phi, khỏe mạnh, tuy đôi tay họ cũng được gắn chặt những muỗng nĩa rất dài. Có khác là thay vì họ cố gắng đưa thức ăn vào miệng mình, họ lại dùng muỗng nĩa để đút thức ăn cho nhau. Phòng ăn vang lên những giọng nói cười vui, thỏa mãn.

Kết thúc bài phóng sự tường trình về những điều mắt thấy tai nghe, chàng ký giả viết: "Ích-kỷ và vị-tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và thiên đàng."

Tâm Tánh Thiên Đàng (Vị tha) và Địa Ngục (Ích kỷ...)  do chính mình chọn, và tự mình hướng tới con đường đó..

IV. Xin nghe thêm: Ca Khúc “Luống Cải Hoa Vàng” 

“Luống Cải Hoa Vàng” Thơ: Vũ Hối, Nhạc: Nguyễn Hữu Tân. Ca sĩ: Mỹ Lan
Để nói lên tình yêu đất nước Tiên Rồng của đàn con viễn xứ Da vàng dưới ngọn Cờ Vàng nhân Mùa Vu-Lan Báo-Hiếu, mong  thế hệ tương lai đừng quên thâm- ân sinh thành dưỡng dục của bậc Phụ-Mẫu Việt Nam trong lịch sử.

(Mùa Vu-Lan Tháng Bảy Mưa Ngâu ÂL 2013)

Nguyễn Việt Nữ

No comments:

Post a Comment